Tài liệu Sinh hoạt Chi đoàn tháng 01/2021
Thứ 2, 28/12/2020 09:06:04

TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI ĐOÀN THÁNG 01/2021

Chủ đề “Tôi - người đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh”

----------------

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước. Nhiều cuộc khởi nghĩa, đấu tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất bại, phong trào cứu nước của nhân dân ta đứng trước khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập,tự do cho dân, cho nước,Người đãbôn ba khắp năm châu bốn biển, vừa lao động, học tập, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới,Người hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt.Người đã đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin; bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất mới của thời đại mở ra từ Cách mạng tháng Mười Nga, Người đãtìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập vào năm 1930,cùng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Namđã cơ bản được hình thành, con đường cứu nướcđúng đắncủa Việt Nam đã cơ bản được xác định. Điều này không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu làLãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã gắn kết thành một khối, phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc, làmnên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nướcdân chủ nhân dânđầu tiên ở Đông Nam Á. Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 02/9/1945, Chủtịch Hồ ChíMinh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân,đồng bào và toàn thế giới:“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập vàsự thật đãthành một nước tự do độc lập”.

Ngay sau khi giành độc lập, chính quyền cách mạng non trẻ của ta đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng đã sáng suốt đề ra đường lối đúng đắn, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ Đảng và giữ vững chính quyền cách mạng.Trên cơ sở đường lối kháng chiến“toàn dân”,“toàn diện”,“trường kỳ”,“dựa vào sức mình là chính”phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc,Chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐảngtađã lãnh đạonhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ“lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”,buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp địnhGiơ-ne-vơ(năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Với tinh thần“thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”;thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người;trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộckết hợp với sức mạnh thời đại, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối,hoàn thành sự nghiệp cách mạnggiải phóngdân tộc, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đi theo con đườngcách mạng doChủ tịch Hồ Chí Minhvạch ra; trong bất cứ hoàn cảnh nào,Đảng taluônkiên địnhmục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,vận dụngphát triển,sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để thực hiện thắng lợi công cuộcđổi mới đất nướcvà hội nhậpquốc tế.Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch của đất nước sau gần 35năm đổi mớivà hội nhậpquốc tế là minh chứng sinh động khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng; khẳng địnhsự đúng đắnvềđường lối cách mạng Việt Nam doChủ tịchHồ Chí Minh vạch ra; và chính trong quá trình vận động của cách mạng, tư tưởng, đường lối đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam đitừ thắng lợi nàyđến thắng lợikhác.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người làtấm gươngmẫu mựcvề đạo đức cách mạng, hết lòng,hết sức cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sảnViệt Nam, xây dựng nền Cộng hoà Dân chủ Việt Nam, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tổ chức và huấn luyện các lực lượng vũ trang nhândân Việt Nam,Người đặt nền tảngquan hệ với các dân tộc trên thế giới.Ngườiđã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lêninvào điều kiện cụ thể của nước ta. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam giành được thắng lợi ngày càng to lớn hơn. Nước ta từ một xứ thuộc địa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậuđã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânkhông ngừngđượcnâng cao; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trịtừng bước hoàn thiện; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.Đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nói: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Đất nước phát triển, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, đã chứng tỏ, tư tưởng, sự nghiệp, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá, là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc ta vững bước đi tới tương lai.Là Lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta nhưng Chủ tịch Hồ Chí không bao giờ coi mình đứng cao hơn nhân dân, không để ai sùng bái cá nhân mình, chỉ tâm niệm suốt đời là người phục vụ trung thành và tận tụy của nhân dân, “như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mặt trận”. Ở Người sự vĩ đại và cao cả được thể hiện thông qua những điều hết sức đời thường và giản dị. Đó không chỉ là biểu hiện của đạo đức, lối sống mà còn là phong cách quần chúng, trọng dân và vì dân. Sự giản dị của Hồ Chí Minh đã trở thành một biểu tượng mang tầm giá trị văn hóa, nhưng lại rất gần gũi với cuộc sống của nhân dân, khiến ai cũng có thể học tập và noi theo.

Cuộc đời của Người là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân tha thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Người để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chan chứa yêu thương, vì nước, vì dân, vì Đảng; một trí tuệ anh minh, mẫn tiệp; một tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói, cách làm việc.

3. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, bồi đắp lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho đoàn viên qua tấm gương anh hùng trẻ tuổi

Anh Lý Tự Trọng: Lý Tự Trọng tên thật là Lê Hữu Trọng, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1914, quê ở xã Việt Xuyên, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng được sinh ra tại Bản Mạy - tỉnh Nakhonphanom - Thái Lan. Cha là Lê Hữu Đạt, còn gọi là Lê Khoan, mẹ là Nguyễn Thị Sờm, đều là những Việt kiều yêu nước, sống và hoạt động cách mạng ở NaKhonphanom. Lên 9 tuổi, Lê Hữu Trọng được gia đình cho đi học tại ngôi trường trong Trại Cày (Nakhonphanom) do cụ Đặng Thúc Hứa - một sỹ phu yêu nước dạy văn hóa. Sau đó, được vào học tại “Hoa Anh học hiệu” anh nổi tiếng học giỏi, thông minh, nói tốt tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Thái Lan. Cuối năm 1926, Lê Hữu Trọng được tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội chọn sang Quảng Châu -Trung Quốc học tập và được đồng chí Nguyễn Ái Quốc đưa vào nhóm “Thiếu niên tiền phong Việt Nam”, một hình thức tổ chức thanh thiếu niên Cộng sản đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Lê Hữu Trọng được đồng chí Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Lý Tự Trọng (cùng họ với Lý Thụy - tên gọi bí mật của đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ) và giới thiệu vào học tại cấp Tiểu học thuộc Đại học Trung Sơn ở Quảng Châu. Qua một thời gian ngắn, anh được cử làm liên lạc cho Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu - Trung Quốc. Vốn thông minh hoạt bát, mưu trí, Lý Tự Trọng đã góp phần tích cực vào việc liên lạc giữa Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội với đảng bạn và cán bộ cách mạng Việt Nam hoạt động tại Trung Quốc, đồng thời tổ chức việc chuyển thư từ, tài liệu của Đảng về nước. Giữa năm 1929, Lý Tự Trọng được cử về nước hoạt động tại Sài Gòn - Chợ Lớn đảm nhận nhiệm vụ liên lạc trong và ngoài nước cho Xứ uỷ Nam Kỳ; vận động tập hợp thanh niên trong các nhà máy, trường học để thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản. Năm 1930, Hội nghị Trung ương lần thứ I của Đảng quyết định tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản. Lúc đó Lý Tự Trọng 16 tuổi, là người vào Đoàn đầu tiên mà cũng là người đầu tiên được giao nhiệm vụ tuyên truyền và tổ chức cho Đoàn. Ngày 8 tháng 2 năm 1931, trong buổi mít tinh kỷ niệm một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái tổ chức tại Sài Gòn, để bảo vệ cho một cán bộ của Đảng đang diễn thuyết trước quần chúng, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên mật thám Pháp Legrand. Anh bị bắt và đưa về giam tại bốt Ca-ti-na, thực dân Pháp đã tra tấn anh bằng mọi cực hình hòng tìm ra các cơ sở cách mạng, song bọn chúng đã thất bại. Khí tiết anh hùng của anh làm cho kẻ thù phải khiếp sợ và kính nể. Chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đã mở phiên tòa đại hình để xử một chiến sỹ Cộng sản Việt Nam 17 mới tuổi. Trước cái chết, anh chủ động biến phiên toà của đế quốc thành diễn đàn lên án ách thống trị thực dân, kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh. Trước toà án đế quốc, Lý Tự Trọng dõng dạc tuyên bố: "… Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác…" Trong những ngày cuối cùng ở xà lim án chém, Lý Tự Trọng vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Thực dân Pháp đã không dám xử công khai Lý Tự Trọng. Lợi dụng lúc nửa đêm về sáng ngày 21 tháng 11 năm 1931, chúng đã hèn hạ dựng máy chém ở ngay khám lớn Sài Gòn hòng giết anh trong im lặng; nhưng tấm gương đấu tranh kiên cường anh dũng và những tiếng hô của anh: “Đả đảo thực dân Pháp”, “Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm”, “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm” đã cổ vũ mạnh mẽ, tạo một làn sóng căm phẫn phản đối tội ác của thực dân Pháp đối với tù nhân trong khám lớn Sài Gòn. Lý Tự Trọng đã hiên ngang bước lên máy chém, hát vang bài Quốc tế ca. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Lý Tự Trọng tuy ngắn ngủi nhưng anh đã nêu tấm gương chói lọi cho các thế hệ thanh niên noi theo. Hình ảnh và chí khí người thanh niên Lý Tự Trọng đã trở thành biểu tượng sáng ngời hết sức thiêng liêng, cao đẹp trong lòng các thế hệ đoàn viên, thanh niên. Câu nói của anh “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng…” đã trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu, kim chỉ nam hành động của thanh niên Việt Nam qua mọi thời kỳ cách mạng.

Chị Võ Thị Sáu, sinh năm 1933 trong một gia đình nghèo ở Đất Đỏ, cha làm nghề đánh xe ngựa, mẹ bán bì bún tại chợ Đất Đỏ; đầu năm 1946, thực dân Pháp trở lại chiếm các địa bàn tại Bà Rịa lần thứ hai, trong đó có Đất Đỏ.Chi Sáu lúc ấy cũng vừa tròn 11 tuổi, với bản chất thật thà, hiền lành và chất phát, yêu quê hương, đất nước, nên nhìn thấy những cảnh giết người, cướp của tàn bạo của bọn lính Pháp, trong lòng chị đã hình thành một ý chí căm thù mãnh liệt, sâu sắc bọn thực dân xâm lược. Trước sự đau thương và mất mát của quê hương, đã thúc đẩy các tầng lớp nhân dân trong huyện tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có chị Võ Thị Sáu; cuộc đời chị Sáu gắn bó cách mạng kể từ đó. Năm 1947, lúc 14 tuổi Sáu vừa làm nhiệm vụ mua hàng, vừa làm nhiệm vụ giao liên để nắm tình hình địch và làm mật hộ viên công an xung phong Đất Đỏ. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng chị rất mưu trí, lanh lẹ và chị luôn hoàn thành nhiệm vụ được phân công. Năm 1949, chị đã trở thành người đội viên công an xung phong Đất Đỏ.Chị đã dũng cảm, sáng tạo và luôn hoàn thành nhiệm vụ người chiến sĩ công an xung phong, tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, trong đó nổi bật nhất là trận đánh diệt tên cai tổng nổi tiếng ác ôn ở Đất Đỏ vào năm 1949 và dùng lựu đạn phá cuộc mít tinh tuyên truyền do Pháp thực hiện tại huyện. Vì vậy, bọn thực dân Pháp vô cùng lo sợ và căm tức đối với hoạt động của đội công an xung phong mà tiên phong là chị Võ Thị Sáu, nên từ đó, bọn chúng ra sức truy lùng ráo riết. Vào tháng 12/1949, trong một chuyến công tác tại Đất Đỏ, chị Sáu đã sa vào tay giặc, hơn một tháng bị giam giữ tại nhà tù Đất Đỏ và khám đường Bà Rịa, địch dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhưng chúng vẫn không lấy được một lời khai nào của chị, sau đó bọn chúng đưa chị về giam giữ ở khám Chí Hòa. Mặc dù bị địch giam giữ nhưng chị Sáu vẫn tiếp tục làm liên lạc cho các đồng chí trong khám và cùng các chị, em trong tù đấu tranh buộc địch phải cải thiện cuộc sống trong nhà tù. Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt và không nao núng của chị Sáu cùng những đồng chí trong tù, dù không đủ bằng chứng, nhưng thực dân Pháp cùng bọn tay sai vẫn kết án tử hình và đày chị ra Côn Đảo. Là người chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, trung thành, chị Võ Thị Sáu vinh dự được Đảng ủy nhà tù Côn Đảo kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam và công nhận là đảng viên chính thức. Chị Võ Thị Sáu hy sinh vào sáng ngày 23/01/1952. Khi giặc Pháp đưa chị ra xử bắn, với nét mặt ung dung, bước đi vững chắc, ngẩng cao đầu, cất lên bài hát Quốc tế ca, với tinh thần lạc quan cách mạng, chị đã thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Chị Võ Thị Sáu hy sinh đã để lại sự thương tiếc vô hạn đối với đồng chí, đồng đội và đồng bào; đồng thời sự hy sinh của chị là lời tố cáo đanh thép đối với sự dã man và âm mưu hèn hạ của chế độ thực dân Pháp lúc bấy giờ.

Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Trỗi(tên gọi khác làTư Trỗi),sinh ngày 01 tháng 02 năm 1940, là con thứ batrong một gia đình nghèo. Ông được sinh ra tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau Hiệp định Genève, gia đình ông vào Sài Gòn sinh sống. Lớn lên, ông làm thợ điện ở nhà máy đèn Chợ Quán và tham gia tổ chức Biệt động thành thuộc Đại đội Quyết tử 65, cánh Tây Nam Sài Gòn. Năm 1964, ông lập gia đình với Bà Phan Thị Quyên, cũng vào năm này, tại căn cứ Rừng Thơm thuộc huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, ông được tập huấn cách đánh biệt động tại nội thành. Ngày02 tháng 5năm1964, Đoàn viên Thanh niên nhân dân cách mạng, Chiến sĩ biệt động Thành Sài Gòn -Gia Định Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ từ tổ chức, cho đặt mìn ở cầu Công Lý nhằm ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp củaChính phủ Hoa Kỳdo Bộ trưởng Quốc phòng Robert Strange McNamaradẫn đầu. Ban đầu nhiệm vụ này được giao cho một người khác nhưng ông đã xung phong đi thay đồng đội, dù bản thân mới cưới vợ. Sự việc bại lộ, ông bị bắt lúc 22giờ00 phút, ngày09 tháng 5năm1964.

Trong nhà lao, dù phải chịu nhiều cực hình nhưng ông không khai báo gì. Chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ đưa ông đi xử bắn bí mật lúc 9 giờ 45 phút, ngày 15 tháng 10 năm 1964, tại sân sau nhà lao Khám Chí Hòa (hiện nay là Số 324, đường Hòa Hưng, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Năm đó, ông 24 tuổi. Những phút cuối cùng, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài, ông tỏ ra rất can đảm, không cho bịt mắt và không đồng ý xưng tội. Ông đã hô lên những lời cuối cùng, được các phóng viên ghi lại:

“Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo Đế quốc Mỹ!”

“Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”

Sau khi hy sinh, ông được Đảng Lao động Việt Nam tại miền Nam truy nhận là Đảng viên và truy tặng Huân chương Thành đồng hạng Nhất.

4. Tuyên truyền, thông tin về những thành tựu kinh tế - xã hội của đất nước
trong năm 2020; về Đại hội Đảng các cấp và Đại hộ Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Tham gia đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

5. Tuyên truyền, giới thiệu về Đoàn cho thanh niên; tổ chức bồi dưỡng,
giáo dục, rèn luyện và kết nạp “Lớp đoàn viên 90 năm thành lập Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh”.

6. Tổ chức cho đoàn viên tham gia cuộc thi tìm hiểu truyền thống 90 năm
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; hành trình “Tự hào tuổi trẻ Việt Nam” đến với 90
địa chỉ đỏ gắn với tổ chức Đoàn trên cả nước./.

Ban Tổ chức Tỉnh đoàn

Nguồn sưu tầm

 
  CÁC TIN BÀI KHÁC
img

TỈNH ĐOÀN CÀ MAU
Số 97, Phan Ngọc Hiển, Phường 5, Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Điện thoại: (02903) 815.787 - 831.250  Fax: (02903) 834.423
Giấy phép số197/GP - TTĐT ngày 04/12/2009 của Cục quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử
Tên miền: 
www.tinhdoancamau.com.vn
Ban biên tập Email:
tinbaiwebsitetinhdoan@gmail.com
Ghi rõ nguồn: "Website Tỉnh đoàn Cà Mau" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Số Người Online
hit counter joomla